Thân Thế Và Sự Nghiệp Ngài NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

Viết bởi Varapunna.

 HỆ III

 

Chi tiết gia đình Là con của ngài : NGUYỄN HOÀNG

 

NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

 

Huy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế

 

(1563 – 1635)

   

- THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

         Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế húy là Nguyễn Phúc Nguyên, con thứ sáu của đức Triệu Tổ Nguyễn Hoàng và Hoàng Hậu họ Nguyễn. Ngài sinh ngày 28 tháng 7 năm Quí hợi (16-8-1563).

        Tương truyền rằng khi Hoàng Hậu có thai. chiêm bao thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữ "Phúc". Nhiều người đề nghị lấy chữ "Phúc" đật tên con thì Bà cho rằng: Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc. Bà bèn đặt tên con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn chúng ta đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đấy.

        Năm 22 tuổi (1585), lúc đang cờn làm Thế tử, ngài đánh tang hai truyền giặc biển vào đánh phá ở Cửa Việt, đức Thái Tổ cà mừng nói rằng "Con ta thực là anh kiệt".

        Năm Nhâm dần (1602), ngài được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam.

        Thán 6 năm Quí sửu (1613) đức Thái Tổ băng, các quan vâng di chiếu tôn ngài làm Thống lãnh Thủy bộ Chư Dinh kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái bảo Thụy Quân công. Bấy giờ ngài đã 51 tuổi. Vua Lê Kính Tông sắc phong ngài làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận công.

        Sau khi lên ngôi, ngài sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu đâu cũng tin phục, thời bấy giờ người ta thường gọi ngài là Chúa Sãi.

        Trong các năm Giáp dần (1614) và Ất mão (1615) ngài tổ chức lại việc cai trị, đặt tam ti và các chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định qui chế các chức vụ ở phủ huyện, phân chia ruông đất ở thôn xã v.v...

        Năm Canh thân (1620) hai em của ngài là các Chưởng cơ Hiệp và Trạch thông đồn với họ Trịnh, chiếm kho Ải Tử đấp lũy Cồn Cát để làm phản. Ngài sai người đến dụ dỗ nhưng hai ông không chịu nghe. Khi hai ông Hiệp và Trạch bị Nguyễn Phúc Tuyên bắt được, ngài trông thấy chảy nước mắt nói: "Sao hai em nở trái bỏ luân thường?" Hai ông cúi đầu chịu tội. Ngài muốn tha nhưng triều thần không chịu bèn sai giam vào ngục. Ngài thấy quân Trịnh vô cớ khởi binh nên từ đấy không chịu nộp thuế cốn nữa.

        Năm Tân dậu (1621) quân Man thuộc Ai Lao cướp bóc ở biên thùy, ngài sai quân đánh bắt, nhưng lấy đức cảm  hóa tha cho về nên chúng cảm phục, từ đấy không quấy nhiễu nữa.

        Để tỏ tình thân thiện cới lân bang, năm Canh thân (1620) ngài gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II. Năm Quí hợi (1623) một phái  bộ miền Nam đi sứ quan Chân Lạp xin với vua Chey-Chetta II nhừng lại một dinh điền ở Mô Xoài gần Bà Rịa ngày nay(1), vua Chân Lạp phải bằng lòng. Ngoài ra, vua còn cho ngườiViệt đến canh tác tại vùng đó.

        Năm Bính dần (1626) Dinh được dời đến làng Phước Yên (Quảng Điền, Thừa Thiên).

        Không những có tài trị nước, ngài còn là người khiêm cung, biết giữ lễ. Như khi nghe Trịnh Tùng chết, các con tranh giành ngôi thứ, ngài báo các tướng: "Ta muốn nhân cơ hội này nổi nghĩa binh để phò Lê, nhưng đánh lúc người có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất vũ. Huống chi ta với Trịnh có nghĩa thông gia." Vì vậy hào kiệt các nơi theo về với ngài rất đông: Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Kiều, Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Hữu Tấn... đều là những danh tướng văn võ toàn tài.

        Năm Đinh mão (1627) Trịnh Tráng đem quân vào đánh, bị thua, phải rút về. Đến năm Kỷ tỵ (1629), Trịnh Tráng lại muốn xâm lược miền Nam bèn sai sứ vào sắc phong để có cớ tiến quân. Đào Duy Từ khuyên rằng: "Đây là họ Trịnh mượn sắc lệnh vua Lê để nhử ta...Chi bằng hảy tạm nhận cho họ không ngờ để ta lo việc phòng thủ rồi sau dùng kế trả lại sắc, bấy giờ họ không làm gì ta được nữa."

        Sau đó, Đào Duy Từ hiến kế đắp các lũy Trường Dục, Nhật Lệ và Trường Satạo thành một thế vững chắc cho xứ Đàng Trong.

        Năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ dân kế kế làm mâm hai đáy trả lại sắc cho chúa Trịnh (2) rồi khuyên ngài đánh lấy đất Nam Bố Chính (huyện Bố Trạch ngày nay) để lấy sông Gianh làm biên giới thiên nhiên cho vững cõi Nam.

        Năm Tân mùi (1631) ngài gả công chúa Ngoc Khoa cho vua Chiêm là Pôrômê, nhờ đó có sự hòa hiếu giữa hai nước Chiêm, Việt.

        Năm Quí dậu (1633) Trịnh Tráng rước vua Lê đem quân vào đánh nhưng bịthua phải rútvề.

        Năm Ất hội (1635) ngày 10 tháng 10 (19-11-1635) ngài mệt, triệu Thế Tử và Nguyễn Phúc Khê vào chầu, gởi gấm Thế Tử cho ông Khê rồi băng. Ngài ở ngôi 22 năm, thọ 73 tuổi.

        Đức Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế là vị chúa Nguyễn thứ hai trị vì ở miền Nam.

        Ngài là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn với một ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập tự chủ. Ngài chình đốn việc cai trị, củng cố về mặt quốc phòng, biết dùng người tài giỏi để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Nhiều lần quân Trịnh vào đánh đều ôm hận rút về.

        Ngài thuộc đời thứ ba của họ Nguyễn Phúc và cũng là vị Chúa đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc. Ngài khai sán ta hệ III hiện nay co 2 phòng:

                    1. Phòng một tức là phòng Khánh Quận Công.

                    2. Phòng mười tức là phòng Vĩnh 

- LĂNG, MIẾU THỜ VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

        Lúc đầu, lăng ngài táng tại huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), sau cải táng về vùng núi thuộc làng Hải Cát huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên). Tên lăng là Trường Diễn. Ngài được thờ ở Thái Miếu, án thứ nhất bên tả (3).

        Thế tử lên ngôi dân thụy hiệu là "Đại Đô Thống Trấn Nam Phương Tổng Quốc Chính Dực Thiện Tuy  Du Thụy Dương Vương".

        Đời Vũ Vương truy tôn: "Tuyên Tổ Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiệntuy Du Hiếu Văn Vương".

        Năm Bính dần (1806), vua Gia Long truy tôn: "Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng Đế." Miếu hiệu là Hy Tông. 
Hệ Ba có 2 phòng: - Phòng Ngài Khánh Quận Công, đền thờ ở làng Dương Nổ. - Phòng Ngài Vinh Quận Công, đền thờ ở làng Ngọc Anh. Cả 2 đền thờ đều thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

 
   

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

 

Tên

NGUYỄN THỊ GIAI

   

Tên thường

   

Tên tự

   

Là con thứ

0

 

Ngày sinh

Mậu dần (1578)

 

Thụy hiệu

Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Hậu

 

Hưởng thọ

53

 

Ngày mất

9/11 Canh ngọ (12-12-1630)

 

Nơi an táng

núi Chiêm Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam

   

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

                   Bà húy là Nguyễn Thị Giai, sinh năm Mậu dần (1578). Bà là trưởng nữ của Khiêm Vương Mạc Kính Điển, người làng Nghi Dương (tỉnh Hải Dương). Khi thân sinh bà bị tử trận, bà theo chú (Mạc Cảnh Huống) và gia quyến vào Nam ần cư ở chùa Lam Sơn tỉnh Quảng Trị. Phu nhân ông Huống là dì của đức Hy Tông vì thế bà được tiến vào hầu ở nơi tiềm để (chỗ ở của Thế tử khi chưa lên ngôi).

                    Bà tính nết hiền thục, cử chỉ đoan trang, thanh nhã. Lời nói, hành động đều đúng khuôn phép nên đức Hy Tông rất thương yêu và cho đổi thành họ Nguyễn.

                    Bà mất ngày mồng 9 tháng 11 năm Canh ngọ (12-12-1630), thọ 53 tuổi, được truy tặng là Doanh Cơ, thụy là Nhã Tiết. Đời Vũ Vương bà được truy tôn: "Huy Cung Từ Thận Thuận Phi".   Năm Bính dần (1806) vua Gia Long truy tôn: "Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu". Lăng táng tại núi Chiêm Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Tên lăng là Vĩnh Diễn. Bà dược phối thờ với Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế tại Thái Miếu.

 

Các anh em, dâu rể: 

   NGUYỄN HÀ
   
NGUYỄN HÁN
   
NGUYỄN THÀNH
   
NGUYỄN DIỄN
   
NGUYỄN HẢI
   
NGUYỄN PHÚC HIỆP
   
NGUYỄN PHÚC TRẠCH
   
NGUYỄN PHÚC KHUÊ
   
NGUYỄN PHÚC DƯƠNG
   
NGỌC TÚ
   
NGỌC TIÊN

Con cái:

       NGUYỄN PHÚC KỲ
       
NGUYỄN PHÚC LAN
       
NGUYỄN PHÚC ANH
       
NGUYỄN PHÚC TRUNG
       
NGUYỄN PHÚC AN
       
NGUYỄN PHÚC VĨNH
       
NGUYỄN PHÚC LỘC
       
NGUYỄN PHÚC TÚ
       
NGUYỄN PHÚC THIỆU
       
NGUYỄN PHÚC VINH
       
NGUYỄN PHÚC ĐÔN

        NGỌC LIÊN
       
NGỌC VÂN
         
NGỌC KHOA
         
NGỌC ĐĨNH

 

=>  Phả Đồ Tôn Thất_Nguyễn Phúc_Hệ 3 Nguyễn Phúc Nguyên_Phòng 1 Nguyễn Phúc Kỳ_Chi 4 Nguyễn Phúc Trí

   

comments