Thân Thế Và Sự Nghiệp Ngài Nguyễn Cam

Viết bởi Varapunna.

HỆ I

 

Chi tiết gia đình Là con của ngài Thủy Tổ Trừng Quốc Công Lê Văn Lựu 

Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế

Húy

Nguyễn Cam_ Nguyễn Kim

 

(1468 – 1545)

 

Ngày sinh: Năm Mậu Tý 1468 (ngày tháng không rõ)

Ngày mất: 20 tháng 8 năm Ất Tỵ (28-6-1545)

Thân Phụ:  Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu

Thân Mẫu: Trừng Quốc Công phu nhân ( họ Mai tên không rõ)             

Lăng Tẩm: Lăng Ngài Nguyễn Kim gọi là Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn (sau đổi tên là núi Triệu Tường), làng Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế Húy là NGUYỄN CAM ,con đầu của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu. Mẹ họ Mai, tên huý không rõ. Ngài sinh năm Mậy Tý (1468), ngày tháng sinh không rõ.

     Thời trai trẻ, ngài tài kiêm văn võ. Ban đầu ấm thụ làm quan coi lính. Đến đời Vua Lê Chiêu Tông (1516-1524) ngài giữ chức Tả vệ Điện tiền Tướng quân, tước An Tĩnh Hầu, trông voi tỉnh Thanh Hóa(2).

Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê(3), ngài đem thuộc hạ tránh sang nước Ai Lao mưu việc khôi phục, lúc đó ngài đã 59 tuổi. Vua Ai Lao là Sạ Đẩu cất cho ngài châu Sầm(4) để ở. Ngài chiêu tập những người trung dũng, gửi con thứ là Nguyễn Hoàng, mới 2 tuổi, cho em vợ là Nguyễn Ư  Kỷ nuôi dạy để mình tiện lo việc lớn.

Năm Kỷ Sửu (1529), Ngài đem quân về Thanh Hoá đánh nhà Mạc, thắng trận liên tiếp.

Năm Canh Dần (1530), quân ngài bị tổn thất. Ngài phải tạm lui về Ai Lao chỉnh đốn lại binh mã.

Năm Quý Tỵ (1533) ngài cùng các tướng dò tìm được Lê Ninh (con trai của vua Lê Chiêu Tông), 18 tuổi, lập lên ngôi tức vua Lê Trang Tông. Từ đó, hào kiệt theo về càng đông, ngài được vua Lê phong chức Thượng Phụ Thái Sư Hưng Quốc côngChưởng nội ngoại sự.

Năm Quí Mão (1543) vua Lê tiến quân từ thành Tây Đô (Thanh Hoá) ra Bắc, sai người mang chiếu thư sang Ai Lao gọi ngài về. Vua gia phong ngài làm Thái Tể Đô tướng Tiết chế tướng sĩ chư dinh thuỷ bộ. Ngài tiến quân đến đâu thắng đến đó.

Năm Ất Tỵ ( 1545) Ngài định Tiến ra Đông Đô (Thăng Long) nhưng bị lụt phải trở về Thanh Hoá, đóng quân ở Yên Mô (Ninh Bình), Hàng tướng sĩ nhà Mạc là Dương Chấp Nhất dâng quả đưa có thuốc độc để hại ngài. Ngài mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (28-6-1545), thọ 78 tuổi.

LĂNG, MIẾU VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

      Được tin ngài mất, vua Lê vô cùng thương tiếc, truy tặng ngài tước Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiếu, Linh cữu ngài được đưa về Bái Trang, huyện Tống Sơn (Thanh Hoá), táng tại núi Thiên Tôn, khi táng trời nổi mưa gió sấm chớp, ai cũng sợ bỏ chạy. Lúc trời tạnh trở lại thì đá núi , cây cỏ tươi tốt, không biết huyệt táng nơi nào nữa.

     Năm Giáp Ngọ (1594) vua Lê Thế Tôngtruy tặng ngài: Chiêu Huân Phụ Triết Tĩnh Công.

Đời Tiên Vương (Chúa Tiên) ngài được truy tôn: Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương.

Đời Vũ Vương, ngài được truy tôn: “Di Mưu Thùy Du Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hòanh Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương”.

Năm Bính dần (1806) vua Gia Long truy tôn ngài: Di Mưu Thùy Du Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh Hoàng Đế”. Miếu hiệu là Triệu Tổ.

Năm Quý Hợi (1803) vua Gia Long cho dựng Nguyên Miếu gồm ba gian hai chái ở phía đông núi Thiên Tôn gọi là miếu Triệu Tưởng để thờ hai Ông Bà.

Năm Giáp Tý (1804) vua Gia Long cho dựng Triệu Miếu trong Hoàng thành để thờ ngài. Mỗi năm làm lễ kỵ vào ngày 20 tháng 5 âm lịch và 5 lễ hưởng: Xuân hưởng (mồng 8 tháng giêng ÂL), Hạ hưởng (mồng 1 tháng 4 ÂL), Thu hưởng (mồng 1 tháng 7 ÂL), Đông hưởng (mồng 1 tháng 10 ÂL) và hợp hưởng (22 tháng 10 ÂL).

Năm Mậu Thìn (1808) vua Gia Long đặt tên lăng ngài là Tường Nguyên. Vì lăng không có dấu tích nên xây một nền vuông dưới chân núi để làm chỗ bái yết.

Năm Tân Tỵ (1821) vua Minh Mệnh đổi tên núi Thiên Tôn là núi Triệu Tường. Năm Nhâm Ngị (1822) vua Minh Mệnh cho sửa Triệu Miếu và dựng bia ở lăng Trường Nguyên để tỏ rõ công nghiệp của đức Triệu Tổ. Bài Minh như sau:

“Đất lớn chúa thiêng, sinh ra Triệu Tổ,

Vun đắp cương thường, nêu rạng Thánh Võ.

Nghĩa động quỷ thần, công truyền vũ trụ

Cõi trần rời bỏ, lăng ở Bái trang

Non nước bao bọc, sầm uất tùng xanh.

Khí thiêng nhóm họp, đời đời xương vinh

Mệnh trời đã giúp, con cháu tinh anh

Võ công dựng nước, bèn tìm gốc nguồn

Truy tôn, dựng miếu, lăng gọi Trường Nguyên

Tân tỵ Bắc tuần, đến đây dựng lại

Trong ngắm non sông, nhớ đến gốc cội

Khắc chữ vào bia, lưu ức vạn tải.”

Đức Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế là khai quốc công thần của nhà Lê trung hưng. Tuy giữa chừng bị hại nhưng công trạng to lớn của ngài sử sách đều ghi rõ.

Ngài là Thuỷ Tổ của họ Nguyễn Phúc ở miền Nam. Ngài khai sang ra hệ I trong Nguyễn Phúc Tộc.

(1) Theo phát âm của Khang Hy tự điển  phải đọc là Cam. Từ trước đến nay quen đọc là Kim, nay sửa lại cho đúng.

(2) Thanh Hoa sau vì kiêng đổi lại là Thanh Ba, về sau đổi lại là Thanh Hoá.

(3) Năm Mậu Ngọ (1522) Mạc Đăng Dung phế vua Chiêu Tông làm Đà Giang Vương, lập Hoàng đệ Xuân lên làm vua tức Lê Cung Hoàng. Năm Bính Tuất (1527) Mạc Đăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng cướp ngôi.

(4) Tức là Sầm Nứa ngày nay.

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

 

Tên

NGUYỄN THỊ MAI

   

Tên thường

   

Tên tự

   

Là con thứ

0

 

Ngày sinh

   

Thụy hiệu

TĨNH HOÀNG HẪU

 

Hưởng thọ

0

 

Ngày mất

23/1 âL

 

Nơi an táng

núi Thiên Tôn

   

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

NGUYỄN THỊ MAI  Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Hậu

     Bà húy là Nguyễn Thị Mai, con ông Nguyễn Minh Biện (quê ở Phạm Xá, tỉnh Hải Dương làm quan triều Lê, chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tứơng Quân Thư Vệ Sự). Tiểu sử không rõ.

      Bà là người thuần hậu, đức hạnh vẹn toàn. Bà mất ngày 23 tháng giêng Âm lịch, không rõ năm. Bà hợp tang tại núi Thiên Tôn với đức Triệu Tổ, nhưng không làm lăng riêng.

      Năm Giáp Tý (1748), Chúa Vũ Vương truy tôn Bà: Từ Tin Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu”. Bà được phối thờ với Đức Triệu Tổ ở Triệu Miếu trong Hoàng thành (1). Tên Lăng của bà là Vĩnh Nguyên.

  

 

Tên

ĐỖ THỊ TÍN

   

Tên thường

   

Tên tự

   

Là con thứ

0

 

Ngày sinh

   

Thụy hiệu

   

Hưởng thọ

0

 

Ngày mất

   

Nơi an táng

     

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

Bà húy là Đỗ Thị Tín , tiểu sử không rõ

                  Bà sinh Thái phi Ngọc Bảo

 

Các anh em, dâu rể: Không có anh em

      Con cái: 

      NGUYỄN HOÀNG

       NGỌC BẢO

       NGUYỄN UÔNG

 

 =>  Phả Đồ Tôn Thất_Nguyễn Phúc_Hệ 3 Nguyễn Phúc Nguyên_Phòng 1 Nguyễn Phúc Kỳ_Chi 4 Nguyễn Phúc Trí

 

comments